contact.wikinvest@gmail.com | 0392.398.516

Lạm phát là gì? Tác động của lạm phát đến thị trường chứng khoán

1. Lạm phát là gì?

Trong kinh tế học, lạm phát là một hiện tượng chỉ sự tăng mức giá chung của nền kinh tế làm mất đi giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Đơn giản hơn, lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ thông thường theo thời gian chẳng hạn như thực phẩm, quần áo, phương tiện giao thông… Đồng thời làm mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó nó phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ.

2. Một số khái niệm khác liên quan

Song hành với lạm phát còn có một số thuật ngữ liên quan đến chủ đề này được hầu hết các nhà kinh tế hiện nay đều sử dụng.

  • Giảm phát – là sự sụt giảm trong mức giá chung trong một khoảng thời gian nhất định.
  • Thiểu phát – là tỷ lệ lạm phát rất nhỏ.
  • Siêu lạm phát – là một vòng xoáy ngoài tầm kiểm soát.
  • Tình trạng lạm phát – là một sự kết hợp của nhiều vấn đề. Tăng trưởng kinh tế chậm và thất nghiệp cao.
  • Tái lạm phát – là một sự nỗ lực nâng cao mức giá chung để chống lại áp lực giảm phát.

3. Nguyên nhân gây ra lạm phát

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát. Dưới đây là một số nguyên nhân dãn đến tình trạng này.

3.1. Lạm phát do cầu kéo

Khi một mặt hàng nào đó trong thị trường có nhu cầu tăng cao kéo theo giá cả của mặt hàng đó tăng lên. Đồng thời, dẫn đến giá cả của hàng loạt hàng hóa khác cũng “leo thang”. Như vậy, giá trị của đồng tiền cũng trở nên mất giá, bạn phải dùng nhiều tiền hơn để mua hàng hóa.

Ví dụ như đến Tết, nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng tăng lên khiến giá cả nhiều loại hàng hóa tăng lên.

3.2. Lạm phát do chi phí đẩy

Chi phí đẩy bao gồm tiền lương công nhân viên, tiền máy móc thiết bị, thuế suất, giá cả nguyên vật liệu đầu vào…. Khi những chi phí này tăng lên sẽ làm tổng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp chắc chắn cũng tăng lên. Điều này sẽ thúc đẩy doanh nghiệp tăng giá sản phẩm bán ra thị trường nhằm bảo toàn lợi nhuận. Như thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng sẽ tăng.

3.3. Lạm phát do cơ cấu

Đây là vấn đề xuất phát từ các doanh nghiệp mà ra. Từ một doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả muốn nâng tiền lương cho nhân viên, sẽ kéo theo các doanh nghiệp khác tăng theo dù không biết kinh doanh có đạt doanh thu hay không. Bởi, họ sử dụng cách tăng giá sản phẩm trên thị trường để đảm bảo mức lợi nhuận, từ đó phát sinh lạm phát.

3.4. Lạm phát do cầu thay đổi

Khi thị trường đang giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó (chủ yếu là mặt hàng được cung cấp độc quyền như điện, nước tại Việt Nam). Từ đó sẽ dẫn đến lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên thì giá cũng sẽ tăng lên. Tuy nhiên, mặt hàng có lượng cầu giảm sẽ không giảm giá mà vẫn tăng lên. Đồng thời dẫn đến vài mặt hàng khác cũng tăng theo. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.

3.5. Lạm phát do xuất khẩu

Đây là hiện tượng xảy ra do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng. Tổng cầu từ trong nước lẫn nước ngoài khiến tổng cung không đủ để cung ứng.  Trong khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung trong nước càng thấp hơn. Khi đó, các sản phẩm thiếu hụt này sẽ bị đẩy giá cả lên gây ra lạm phát.

3.6. Lạm phát do nhập khẩu

Khi hàng hóa nhập khẩu tăng do thuế hoặc giá cả trên thế giới, khiến giá bán ra trong nước cũng tăng theo. Khi mức giá chung bị giá cả của nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.

3.7. Lạm phát tiền tệ

Khi lượng cung tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ.

Hay do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát.

4. Các mức độ của lạm phát

Có 3 mức độ:

  • Lạm phát tự nhiên: 0 – dưới 10%
  • Lạm phát phi mã: 10% đến dưới 1000%
  • Siêu lạm phát: trên 1000%

Trên thực tế, các quốc gia chỉ kỳ vọng chỉ xảy ra khoảng 5% trở xuống là con số lý tưởng. Chẳng hạn như một quốc gia tăng trưởng 7-10%/ năm thì tiền mất giá khoảng 10% là vừa tầm. Tính ra quốc gia đó có phần trăm tăng trưởng dương thực sự.

Từng là quốc gia có thu nhập đầu người cao nhất tại Nam Mỹ, Venezuela đã phải đối mặt với tình trạng siêu lạm phát lên đến 1.000.000% vào năm 2018. Người dân Venezuela dùng bao tải hoặc thùng lớn thay vì dung ví để mua thực phẩm hằng ngày. Thậm chí, để đỡ mất thời gian, nhiều người còn cân thay vì đếm tiền. Đồng nội tệ bolivar của Venezuela khi đó gần như mất giá hoàn toàn như siêu lạm phát từng xảy ra ở Đức năm 1923 với tỷ lệ 10.000.000.000% và ở Bolivia năm 1985 với 50.000%.

5. Lạm phát được đo lường như thế nào?

Tỷ lệ lạm phát được đo lường bằng mức độ thay đổi giá cả của một lượng lớn các hàng hóa dịch vụ trong một nền kinh tế. Tuy vậy,  các mức thay đổi giá của từng loại mặt hàng hóa khác nhau sẽ khác nhau. Do đó, cần phải xây dựng một chỉ số giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các loại hàng hóa và dịch vụ hiện có trong nền kinh tế. Tỷ lệ lạmphát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này.

Hiện nay không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất cho chỉ số lạm phát. Giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số. Cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện.

Thông thường thước đo lạm phát phổ biến nhất được các nhà phân tích sử dụng chính là chỉ số giá tiêu dùng CPI (consumer price index). Đây là chỉ số đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hóa và dịch vụ. Bao gồm các hàng hóa dịch vụ thiết yếu như lương thực, thực phẩm, dịch vụ y tế…

Ngoài ra ở Mỹ còn sử dụng chỉ số tiêu dùng cá nhân (Personal Consumption Expenditures – PCE) để đo lường tỷ lệ lạm phát. Sự khác biệt của chỉ số PCE so với CPI là danh mục rổ hàng hóa trong tính toán sẽ được thay đổi sau một thời gian khảo sát. Điều này khắc phục được nhiều nhược điểm của chỉ số CPI bởi tỷ lệ chỉ tiêu cho thấy các mặt hàng luôn luôn thay đổi theo thời gian cũng như nhiều mặt hàng trong rổ hàng hóa trước đó có thể bị lỗi thời.

6. Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế như thế nào?

Bất kể một cái gì cũng có tác động bởi hai mặt tích cực và tiêu cực, lạm phát cũng vậy.

6.1.  Về mặt tích cực

Mặc dù lạm phát thường rất có hại, nhưng nó có thể có một số lợi ích tích cực.

Thứ nhất: ở mức độ nhẹ (khoảng từ 2% – 10%) sẽ kích thích nền kinh tế của một quốc gia như sử dụng tín dụng cho tiêu dung thì sẽ có nhiều tiền hơn trong lưu thông. Từ đó kích cầu giúp thúc đẩy sản xuất, giảm thất nghiệp, và đưa nhiều tiền hơn vào hoạt động kinh tế trên tổng thể.

Thứ hai: giúp chống lại một mối nguy hiểm đối với nền kinh tế được gọi là “Nghịch lý của tiết kiệm”. Khi mọi người đều dồn tiền đi gửi tiết kiệm ngân hàng thay vì mua sắm khi giá giảm trong thời kỳ giảm phát.  Lúc này, lạm phát hoạt động theo cách ngược lại của giảm phát – nó nhắc nhở người tiêu dùng nên nhanh chóng mua hàng hóa và dịch vụ trước khi giá của chúng tăng thêm.

6.2. Về mặt tiêu cực

Thực dễ hiểu khi lạm phát là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh tế và quan chức chính phủ do mặt tiêu cực của nó ảnh hưởng đến nền kinh tế lớn hơn nhiều so với những lợi ích mà nó mang lại.

Thứ nhất: tác động trực tiếp đến cuộc sống sinh hoạt của người dân đặc biệt là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong một quốc gia. Sự gia tăng về giá cả của các mặt hàng trên thị trường khiến đồng tiền mất giá, từ đó dẫn đến nhiều khó khăn cho đời sống kinh tế, an sinh và xã hội.

Thứ hai: giảm thu nhập thực của tầng lớp lao động đồng thời gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.

Thứ ba: Làm cho lãi suất tăng lên nhưng làm giảm giá trị tiết kiệm.

Thứ tư: bị các tổ chức cho vay nước ngoài xa lánh, thậm chí “cô lập”. Để giải quyết vấn đề đến, chính phủ phải nhờ cứu trợ tài chính từ các tổ chức cho vay nước ngoài. Nếu như quốc gia đó không cải cách thực trạng kinh tế khi đó sẽ xảy ra tình trạng chính phủ vỡ nợ, tham nhũng diễn ra và trạng thái của nền kinh tế sẽ càng tồi tệ hơn. Khi đó, không ai muốn giao dịch với quốc gia này.

7. Cách kiểm soát lạm phát

Hiện nay, có nhiều phương pháp và chính sách đã và đang được sử dụng để kiểm soát lạm phát hiệu quả. Dựa trên tình hình thực tế, có các hướng chủ yếu như sau:

  • Giảm lượng tiền giấy đang lưu thông hiện tại như phát hành trái phiếu, tăng lãi suất tiền gửi,… Đây là cách làm giảm lạm phát trong thời gian ngắn nhất.
  • Thắt chặt chính sách tài khóa bằng cách cân đối ngân sách nhà nước, cắt giảm chi tiêu đầu tư công và tạm hoãn các khoản chưa cần thiết.
  • Tăng quỹ hàng hóa cung cấp trong thị tường để cân đối với số lượng tiền lưu thông. Chẳng hạn như đưa đưa ra nhiều chính sách ưu đãi tín dụng, ưu đãi lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp sản xuất, thúc đẩy tăng năng suất lao động. Giảm các loại thuế suất giúp làm giảm bớt chi phí đẩy, tăng năng suất lao động, hạn chế nâng giá cả sản phẩm ra thị trường.
  • Đi vay/ nhận viện trợ từ nước ngoài.
  • Cải cách tiền tệ.

8. Lạm phát ở Việt Nam.

Bất kể một quốc gia trong bất kỳ giai đoạn nào trong nền kinh tế cũng đều xuất hiện lạm phát. Tuy nhiên, tỷ lệ ấy ở mức tự nhiên dưới 10% vẫn là con số có thể chấp nhận được.

Lạm phát ở Việt Nam điển hình nhất vào tháng 12 năm 2007. Do tác động của tình hình phát triển kinh tế chung của hội nhập khu vực và thế giới đã khiến lạm phát của Việt Nam tăng cao ở mức hai con số 12,63%. Nếu so sánh với mức của một số nước trong khu vực và trên thế giới trong thời điểm đó như Trung Quốc: 6,5%; Indonesia: 6,59%; Mỹ: 4,08%, Thái Lan: 3,21%, Khu vực đồng Euro: 3,07%, Nhật Bản: 0,7% thì lạmphát của Việt Nam có phần cao hơn. Đây là mức tăng cao trong vòng 12 năm (1995-2007) kể từ khi lạm phát luôn được kiểm soát ở một con số.

Chính phủ đã kịp thời đưa ra cả gói 8 giải pháp để kiềm chế lạm phát trong lúc bấy giờ. Sau đó, có thể nói tình hình đã có phần dịu đi nhưng nền kinh tế vẫn chưa ổn định, giá cả vẫn ở mức cao và chưa trở về mức khi chưa có lạmphát.

Đến nay, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam luôn giữ ở mức ổn định. Tuy nhiên, với sự phát kinh tế ngày càng nhanh của thế giới. Đồng thời giá cả hàng hóa toàn cầu đang tăng cao sau khi dịch Covid-19 xảy ra khiến nhiều nhà chức trách trên thế giới lo ngại về lạm phát phát sinh. Việt Nam cũng không ngoại lệ. Chính phủ luôn phải có những kế hoạch cũng như phương án, chính sách để ngăn chặn kịp thời khi có dấu hiệu xuất hiện lạm phát.

Wikinvest là nơi cung cấp cho nhà đầu tư kiến thức về tài chính, chứng khoán một cách chính xác, đầy đủ, và toàn diện nhất.

Tất cả các báo cáo hay khuyến nghị từ Wikinvest đều xuất phát từ triết lý “đầu tư giá trị”, kết hợp với quá trình phân tích cẩn trọng và tầm nhìn dài hạn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC
 
0392.398.516